Giới thiệu     Đăng ký nhận bản tin     Câu hỏi thường gặp     Disclaimer     
                   
Bạn đang ở: Xuất khẩu » Hoạt động ITPC » Hi–tech Agro 2014 thu hoạch, bảo quản tốt để nâng giá trị nông sản trong chuỗi cung ứng
Hi–tech Agro 2014 thu hoạch, bảo quản tốt để nâng giá trị nông sản trong chuỗi cung ứng
Tin ngày :  03/11/2014
Trong khuôn khổ Hội chợ triển lãm Nông nghiệp công nghệ cao và công nghiệp thực phẩm 2014 (Hi-tech Agro 2014), Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP.HCM đã tổ chức hai hội thảo: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao – Kinh nghiệm của các nước” và "Ứng dụng công nghệ sau thu hoạch giúp nâng cao giá trị nông sản và thực phẩm chế biến".

Đông đảo doanh nghiệp tham dự hội thảo tai Hi-tech Argo 2014

Thất thoát sau thu hoạch ở Việt Nam khoảng 20 - 30% 

Theo tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng ở Trung tâm Giống rau hoa thuộc Công ty cổ phần Giống cây trồng miền Nam, sản xuất nông nghiệp ở Úc rất đáng để học hỏi. Úc có dân số khoảng 21,5 triệu người. Tuy lao động trong nông nghiệp chỉ có khoảng 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động toàn quốc, nhưng chỉ số tự cung tự cấp của Úc cao nhất thế giới. Một nông dân Úc có thể “nuôi” 190 người. Đây là con số kỷ lục, chưa có nông dân một nước nào trên thế giới có thể sánh được.

Trị giá sản lượng nông sản tại nông trại của Australia vào năm 2004 - 2005 là 39,46 tỷ AUD, chiếm 3% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Australia phát triển và sản xuất hầu hết các mặt hàng nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản, xuất khẩu đến 65% nông sản với kim ngạch khoảng 25,6 tỷ AUD. Australia định hướng tất cả hàng nông sản cho là xuất khẩu, trong đó việc nghiên cứu và phát triển thành công chuỗi cung ứng – mà chủ yếu là công nghệ sau thu hoạch -  được xem là một trong những bài học đáng để Việt Nam tham khảo.

Muốn hoàn thiện chuỗi cung ứng, không thể không quan tâm đến bảo quản sau thu hoạch để chất lượng nông sản đáp ứng yêu cầu tiêu dùng ngày càng cao về chất lượng và an toàn vệ sinh. Ở Australia, nông sản thất thoát sau thu hoạch khoảng 10 - 20%, trong khi Việt Nam khoảng 20 - 30%. Sự thất thoát  này có thể do một trong hai nguyên nhân sau: sản phẩm không có giá trị, không bán được;  sản phẩm có thể bán được nhưng chỉ với giá rẻ vì chất lượng kém.

Hiện nay, ở Việt Nam, nhiều nơi đã áp dụng quy trình sản xuất nông nghiệp tốt (GAP) và quy trình chế biến tốt (GMP) để bảo đảm sản phẩm có chất lượng và an toàn vệ sinh khi thu hoạch. Tuy nhiên, quá trình bảo quản sau thu hoạch ,nhất là khâu vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ không hợp lý, không đúng cách đã làm cho chất lượng sản phẩm bị giảm sút nhiều, nếu không cải thiện sẽ khó làm tăng giá trị nông sản.

Ông Antony Nezic, chủ tịch Phòng Thương mại Canada tại Việt Nam nhận định nông nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu: từ sản xuất tự cung đến tạo nguồn dồi dào cho xuất khẩu, giảm nghèo ở nông thôn, ngành nông nghiệp đã góp phần chủ yếu giúp Việt Nam đứng vững trong cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế giới trong thời gian qua. Thế nhưng, năng suất thấp, tổn thất sau thu hoạch đáng kể làm giảm giá đối với hầu hết hàng nông sản xuất khẩu là điều đáng tiếc. Chính phủ Việt Nam cần đưa ra những chính sách để khuyến khích đầu tư công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Ở Canada, Chính phủ không tham gia vào việc kinh doanh nhưng hỗ trợ nông nghiệp phát triển qua thể chế, pháp lý, nghiên cứu, lập những cơ quan nghiên cứu, hiệp hội tư nhân về từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi.

Ông R.J Nissen, giám đốc kinh doanh Công ty TNHH Ag - Hort Quốc Tế nhận thấy ở Việt Nam tỷ lệ nông sản hao hụt từ khi thu hoạch đến tay người tiêu dùng hiện nay rất cao, do từ lúc nông dân thu hoạch đến khi thương lái mua gom, vận chuyển, bán sỉ, bán lẻ đến tay người tiêu dùng, mỗi khâu đều góp phần làm giảm chất lượng rau củ quả, trái cây do chúng bị bầm dập, trầy xước...

Muốn xuất khẩu nông sản, việc thu hoạch, bảo quản tốt sau thu hoạch phải được xây dựng lại. Ngay ở Việt Nam vào năm 2011, kênh bán lẻ truyền thống chiếm 78%, kênh hiện đại chiếm 22%; từ năm 2012 – 2014 tỷ lệ này tăng gần 4% mỗi năm và đang tiếp tục tăng. Nông dân phải đối mặt với một sự suy giảm của các kênh bán buôn truyền thống và sự gia tăng hoạt động mua bán với các nhà phân phối thuộc kênh bán lẻ hiện đại. Để người tiêu dùng sẵn sàng bỏ tiền cao hơn khi mua sắm, các nhà bán lẻ hiện đại buộc phải chọn lựa hàng hóa kỹ lưỡng hơn nhiều, nên tạo ra sự khắt khe khi chọn nhà cung cấp.

Chú trọng công nghệ bảo quản mang giá trị cao cho nông sản

Theo đánh giá của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO), Việt Nam nằm trong số các nước có ngành nông nghiệp phát triển với tốc độ nhanh và đang là một trong các nước có giá trị xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản hàng đầu thế giới. Việt Nam có điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn các vùng khác để phát triển cây ăn quả. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Nguyễn Duy Đức (Phân viện Cơ điện Nông nghiệp và  công nghệ sau thu hoạch), thiếu chiến lược phát triển, quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung; nghiên cứu và áp dụng các giống cây còn hạn chế; hệ thống canh tác chưa tiên tiến, chưa áp dụng nhiều cơ giới hóa đã làm cho năng suất, sản lượng thấp, chi phí sản xuất cao. Việc áp dụng quy trình VietGAP, GlobalGAP cho một số nông sản (rau, củ , quả…) còn hạn chế, cộng với thiếu hệ thống bảo quản, tồn trữ sau thu hoạch (chỉ có một số ít nhà đóng gói rau quả nào có hệ thống xử lý với thiết bi đồng bộ, kho mát xử lý rau củ quả), khiến tổn thất sau thu hoạch rau củ quả còn cao.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Đức đề xuất nên có các chương trình huấn luyện cho nông dân ứng dụng công nghệ tiên tiến, xử lý cận thu hoạch bằng các chất điều hòa sinh trưởng, kéo dài thời gian thu hoạch; thu hoạch đúng độ chín; chuẩn bị các nguyên liệu, dụng cụ thu hoạch cho phù hợp, tránh để va chạm cơ học gây dập, nát, tổn thất chất lượng và số lượng. Doanh nghiệp thu mua xây dựng hệ thống kho có công nghệ bảo quản phù hợp tại các khu vực trung chuyển, xuất khẩu, nhất là các cửa khẩu vùng biên mậu; đầu tư các phương tiện vận chuyển đường dài có bảo quản mát, tăng khả năng lưu thông, tiêu thụ nội địa.

Tiến sĩ Nguyễn Duy Đức cũng đề xuất rà soát, ban hành quy hoạch tổng thể về phát triển vùng nguyên liệu theo hướng tập trung cho từng tỉnh, vùng, đây là công tác rất quan trọng trong định hướng phát triển ngành rau quả. Bên cạnh đó, sớm áp dụng chương trình phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng rau quả, mỗi tỉnh chọn 1-2 sản phẩm có lợi thế cạnh tranh; tăng cường hợp tác giữa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước liên quan  đến ngành rau quả để tạo thương hiệu và phát triển  một cách bền vững.

Tại hội thảo, một số viện, trường đã công bố những nghiên cứu có thể ứng dụng trong sản xuất, bảo quản thủy sản, thực phẩm.

Phòng Nghiên cứu năng lượng và môi trường, Khoa Cơ khí máy, Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM cho biết công nghệ Plasma lạnh được áp dụng vào quy trình xử lý và bảo quản thực phẩm nhằm giải quyết các vấn đề về xử lý nước-nước thải, xử lý không khí, xử lý bề mặt bao bì và bề mặt trên thực phẩm. Quy trình xử lý và các thiết bị ứng dụng công nghệ Plasma được thiết kế rất nhỏ gọn, vận hành tự động, không sử dụng hóa chất và chi phí thấp. Plasma lạnh có tính ứng dụng cao vào quy trình xử lý và bảo quản thực phẩm. Các thiết bị, máy móc trên được thiết kế và chế tạo tại Phòng Nghiên cứu Năng lượng và Môi trường, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Nguyện (Trung tâm Dinh dưỡng và công nghệ sau thu hoạch - Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II) đã giới thiệu công nghệ sản xuất bột canxium peptide từ phụ phẩm cá tra. Trong các nhà máy thủy sản, cá tra thường chỉ được sử dụng phần philê (khoảng 30 – 35% trọng lượng cá), do vậy lượng phụ phẩm của quá trình sản xuất chính như da, xương, đầu, mỡ, nội tạng, thịt vụn cá rất nhiều. Quy trình công nghệ sản xuất bột peptide sinh học có hoạt tính liên kết canxi cao từ phế phẩm quá trình sản xuất cá tra đạt tiêu chuẩn ứng dụng trong thực phẩm giúp hạn chế sự thiếu hụt canxi trong khẩu phần cho  người.

Phó giáo sư Tiến sĩ Ngô Đại Nghiệp (Bộ môn Sinh Hóa, khoa Sinh học, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) công bố công trình sản xuất Chitosan ứng dụng tốt trong sản xuất chế phẩm sinh học kháng khuẩn nấm cho thanh long, đưa vào sản xuất thực phẩm, mỹ phẩm như thay hàn the để tăng độ dai cho chả lụa, bổ sung vào bột dứa làm tăng hoạt tính sinh học của bột dứa hòa tan, có lợi cho sức khỏe. Ngoài ra, còn có nghiên cứu quy trình thu nhận cao chiết từ các nguồn thực vật và vi sinh vật như sen, tía tô, trà, nấm men, vi khuẩn;quy trình sản xuất trà từ một số nguồn nguyên liệu thực vật sẵn có ở Việt Nam.

Tin khác
 
Đăng ký nhận bản tin
 
 
    Sự kiện mới
 
[ xem tiếp ]