Giới thiệu     Đăng ký nhận bản tin     Câu hỏi thường gặp     Disclaimer     
                   
Bạn đang ở: Xuất khẩu » Tin tức » Tin trong nước » 2017 » Tháng 05 » Việt Nam dẫn đầu trong 10 nhà nhập khẩu hàng may mặc vào Hoa Kỳ trong tháng 3
Tin tức
Việt Nam dẫn đầu trong 10 nhà nhập khẩu hàng may mặc vào Hoa Kỳ trong tháng 3
Tin ngày :  10/05/2017
Nhập khẩu hàng may mặc vào Mỹ đã tăng trưởng 2 con số từ 4 trong số 10 quốc gia hàng đầu trong tháng 3, trong đó, Việt Nam dẫn đầu, do các nhà bán lẻ bổ sung lượng hàng chuẩn bị cho mùa xuân.
Các số liệu mới nhất từ ​​Văn phòng dệt may Hoa Kỳ (OTEXA) của Bộ Thương mại cho thấy khối lượng hàng may mặc nhập khẩu của Hoa Kỳ từ tất cả các nguồn giảm 7,6% so với tháng trước, đạt 1,93 tỷ SME so với mức 2,09 tỷ SME trong tháng 02.

Số liệu này cũng cho thấy khối lượng hàng may mặc nhập khẩu giảm 7,9% so với tháng 3 năm 2016, và giảm 4,2%, đạt 5,82 tỷ USD về giá trị.

Về khía cạnh nhà cung cấp tư nhân của các quốc gia, tất cả trừ 02 trong số 10 quốc gia được ghi nhận là tăng trong năm qua, với 04 quốc gia có mức tăng trưởng 02 con số.

Trung Quốc - nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất cho Hoa Kỳ có các lô hàng tăng 15,5% so với năm trước, tăng 544 triệu SME từ mức 785 triệu SME trong tháng 02. Việt Nam là nhà cung cấp lớn thứ 02, tăng 19,5% đạt 271 triệu SME, thay đổi so với mức giảm 8,9% vào tháng 02.

Bangladesh, đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng top 10, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 169 triệu SME, trong khi đó Campuchia tăng 6,1%, đạt 77 triệu SME. Các lô hàng của Ấn Độ tăng 3% đạt 112m SME.

Trong số 10 quốc gia cung cấp hàng đầu còn lại, Nicaragua là quốc gia mới được đưa vào danh sách vào tháng trước, tăng 9,5% đạt 49 triệu SME, trong khi đó, El Salvador theo ghi nhận là tăng trưởng 15,1% đạt 76 triệu SME. Các chuyến hàng chuyển đến từ Indonesia tăng 4,3% đạt 116 triệu SME, Honduras tăng 14,1% đạt 99 triệu SME, trong khi so với cùng kỳ năm trước thì Mexico lại giảm 5,8% còn 75 triệu SME.

Tổng nhập khẩu hàng may mặc và dệt may của Hoa Kỳ trong tháng 3 giảm 4,9% so với tháng 2, giảm còn 4,48 tỷ SME so với mức 4,71 tỷ SME trong vòng 1 tháng. Các lô hàng dệt may chuyển đến Hoa Kỳ tăng 4,6% đạt 2,55 tỷ SME so với năm trước.

Tính từ đầu năm đến nay và tổng quan 6 năm

Mặc dù dữ liệu thương mại hàng tháng thường không ổn định với những dao động lớn từ tháng này sang tháng khác, một góc nhìn khác tính theo năm cho thấy tổng khối lượng hàng dệt may và may mặc nhập khẩu của Hoa Kỳ tăng 1,2% trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 3, đạt 14,67 tỷ SME tăng so với mức 14,50 tỷ SME trong cùng kỳ năm trước. Trong đó, dệt may tăng 0,9%, đạt 8,23 tỷ SME, trong khi các lô hàng may mặc tăng 1,5% đạt 6,44 tỷ SME.

Về giá trị, tổng nhập khẩu hàng dệt may và may mặc của Hoa Kỳ giảm 3,9% còn 24,29 tỷ USD tính từ đầu năm đến nay, so với mức 25,27 tỷ USD trong cùng kỳ năm trước.

Nhập khẩu hàng may mặc giảm 2%, còn 18,92 tỷ USD, trong khi hàng dệt may giảm 10,1% đạt 5,36 tỷ USD.

04 trong số 10 quốc gia cung cấp hàng may mặc hàng đầu cho Hoa Kỳ được ghi nhận tăng trưởng trong 3 tháng đầu năm, Nicaragua có mức tăng lớn nhất (11,1%, đạt 134 triệu SME).

Việt Nam được ghi nhận là quốc gia mức tăng trưởng cao thứ 2, với mức tăng 10,2% đạt 898 triệu SME. Nhập khẩu từ Trung Quốc tăng 1,7% đạt 2,40 tỷ SME quốc gia này vẫn là nhà cung cấp hàng may mặc lớn nhất cho Hoa Kỳ với thị phần 41,5%. Trong khi đó, Bangladesh, nhà cung cấp lớn thứ 3 chiếm 6,9% thị phần, có số lô hàng chuyển đến Hoa Kỳ giảm 1,05% trong năm 2016, đạt 512 triệu SME.

Mexico được ghi nhận là quốc gia có mức giảm lớn nhất (6,6%) đạt 207 triệu SME, các lô hàng may mặc chuyển từ Campuchia sang Hoa Kỳ giảm 2,3% đạt 233 triệu SME.

Theo dữ liệu 6 năm từ năm 2010 đến năm 2016, Việt Nam là quốc gia duy nhất trong top 10 quốc gia được ghi nhận là có sự gia tăng về số lượng nhập khẩu vào Hoa Kỳ, từ 1,91 tỷ SME trong năm 2010 tăng lên 3,35 tỷ SME vào năm 2016, tỷ trọng nhập khẩu tăng từ 7,72% lên 12,45%.

Nhập khẩu của Trung Quốc dao động trong giai đoạn này, từ 10,4 tỷ SME trong năm 2010, giảm còn 9,74 tỷ SME sau 1 năm, trước khi đạt mức cao nhất là 11,38 tỷ SME vào năm 2015, và trước khi giảm trở lại vào năm 2016 còn 11,17 tỷ SME. Trung Quốc đã mất thị phần thị trường cận biên từ 41,98% năm 2010 giảm còn 41,50% vào năm ngoái.

Trong khi đó, Campuchia, Mexico và Pakistan, xuất khẩu sang Hoa Kỳ ít hơn 6 năm trước. Campuchia giảm từ 947,1 triệu SME còn 903 triệu SME trong năm 2016, tỷ trọng giảm từ 3,83% năm 2010 còn 3,35% vào năm ngoái.

Sự thật phía sau những con số

Trong khi đó, những lo ngại về vấn đề tăng lương đang làm suy yếu khả năng cạnh tranh sản xuất hàng may mặc Trung Quốc trên thế giới, thì các số liệu mới nhất khẳng định sức hút của Trung Quốc đối với các nhà mua hàng may mặc do việc giá cả đang tăng phần lớn được bù đắp bởi tăng năng suất. Không một quốc gia nào khác có thể sánh được Trung Quốc về quy mô cung cấp, kỹ năng, mức độ chất lượng, mức độ đa dạng sản phẩm và sự hoàn thiện của chuỗi cung ứng. Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu về hiệu quả và cơ sở hạ tầng.

Số liệu gần đây về nhập khẩu hàng may mặc của Trung Quốc vào Hoa Kỳ năm 2016 cho thấy giá cả của Trung Quốc hiện nay thấp hơn so với 6 năm trước đây. Tuy nhiên, theo phân tích số liệu thương mại năm 2016 của Tiến sĩ Sheng Lu, trợ lý giáo sư tại Khoa Nghiên cứu Thời trang và May mặc của Đại học Delaware cho thấy, Trung Quốckhả năng sẽ duy trì vị trí dẫn đầu trong tương lai, nhưng việc cạnh tranh từ phía các nhà cung cấp ở Tây bán cầu ngày càng gia tăng, do những nhà cung cấp này có tốc độ cung cấp cho thị trường nhanh hơn.

Trong khi đó, Việt Nam được hưởng lợi khi các nhà sản xuất và người mua hàng đa dạng hóa chuỗi nâng cao giá trị gia tăng. Về khối lượng, Việt Nam đã tăng thị phần nhập khẩu của Mỹ trong năm ngoái, tăng từ 11,52% trong năm 2015 lên 12,45% trong vòng 1 năm, tính đến tháng 12/2016.

Các nhà sản xuất Việt Nam tiếp tục được lợi ích từ việc tiếp cận thị trường nhập khẩu EU đã được hoàn thiện một khi Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU có hiệu lực, cũng như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài đã tăng trước thời điểm Hiệp định Thương mại Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) hiện nay bị hủy bỏ.

Ngành công nghiệp cũng kêu gọi chính phủ đề ra chiến lược phát triển đến năm 2025 với tầm nhìn đến năm 2040 nhằm giúp cho các doanh nghiệp nội địa tận dụng nhiều cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do cũng như bù đắp cho cạnh tranh từ các quốc gia láng giềng như Campuchia và Myanmar, Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh và Sri Lanka.

Nicaragua đã xuất hiện trong danh sách top 10 của tháng 3, thay thế vị trí của Pakistan trong tháng thứ 2 trong bảng xếp hạng. Với việc hưởng lợi từ thỏa thuận tự do thương mại tự do của Cộng hòa Dominicana - Trung Mỹ FTA (DR - CAFTA), một số nhà sản xuất Nicaragua đã đặt tham vọng đẩy mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng từ các thương hiệu may mặc của Hoa Kỳ.

Nicaragua sản xuất cho các công ty gồm Under Armour và Nike, được lợi từ mức lương thấp và môi trường kinh tế và chính trị ổn định. Chính phủ Nicaragua cũng đàm phán các thỏa thuận về tiền lương chung trong 5 năm nhằm tạo thêm sự ổn định cho các nhà sản xuất.

Về %, các quốc gia Trung Mỹ xuất khẩu sang Hoa Kỳ, khối lượng xuất khẩu dệt may của Nicaragua tăng nhanh nhất trong năm qua. Năm 2016, khối lượng xuất khẩu đạt 531,3 triệu SME so với mức 488,1 triệu SME trong năm 2015. Theo báo cáo Hội đồng Khu vực Tự do Quốc gia (CNZF), Nicaragua hiện có khoảng 264 công ty may mặc và dệt may hoạt động trong khu vực tự do.

(Theo Just – Style – N.Phuong)

Tin khác
      1   2   3   4      
 
Đăng ký nhận bản tin
 
 
    Sự kiện mới
 
[ xem tiếp ]