Biến áp lực tuân thủ chuỗi cung ứng thành nền tảng phát triển bền vững cho doanh nghiệp Việt

Ngày 26/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh (ITPC) đã phối hợp cùng Công ty TNHH Tư vấn và Đào tạo SMP tổ chức Hội thảo “Từ truy xuất nguồn gốc đến lợi thế ESG”. Sự kiện thu hút sự tham gia đông đảo của đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp, cùng đội ngũ cán bộ phụ trách quản lý chất lượng, chuỗi cung ứng, xuất nhập khẩu, pháp chế và phát triển bền vững trên địa bàn Thành phố.

Phát biểu định hướng tại Hội thảo, bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc ITPC, đã nhấn mạnh tính cấp bách của các tiêu chuẩn xanh, cho rằng sự minh bạch trong chuỗi cung ứng đang dần trở thành một “hàng rào xanh” mới của thương mại toàn cầu. Nhận định này hoàn toàn có cơ sở khi thị trường quốc tế, đặc biệt là Liên minh châu Âu, đang áp dụng những rào cản vô cùng nghiêm ngặt. Theo số liệu cập nhật từ Bộ Công Thương, Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) sẽ chính thức được áp dụng từ ngày 30 tháng 12 năm 2026 đối với các doanh nghiệp quy mô lớn và vừa, và bắt đầu từ ngày 30 tháng 6 năm 2027 đối với khối doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quy định khắt khe này áp dụng bắt buộc đối với 7 nhóm hàng hóa trọng điểm bao gồm gỗ, cà phê, cao su, ca cao, dầu cọ, đậu nành và gia súc. Để xuất khẩu, doanh nghiệp buộc phải truy xuất nguồn gốc đến từng lô đất sản xuất và cung cấp dữ liệu để chứng minh sản phẩm không liên quan đến hành vi phá rừng sau ngày 31 tháng 12 năm 2020. Kỷ luật từ thị trường nội địa cũng đang được siết chặt với việc chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm gắn liền với quản lý rủi ro. Theo Luật số 78/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2026) và Nghị định số 37/2026/NĐ-CP, kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2026, các nhóm hàng hóa có rủi ro cao như thực phẩm, dược phẩm và vật tư nông nghiệp đã chính thức bắt buộc phải thực hiện đầy đủ quy định về truy xuất nguồn gốc. Ngoài ra, thời hạn chuyển tiếp cho phép tiếp tục sử dụng nhãn và bao bì cũ cũng sẽ chính thức kết thúc tối đa vào ngày 23 tháng 01 năm 2028.

Đứng trước bối cảnh đó, hội thảo đã đặt ra vấn đề thay đổi nhận thức về hệ thống truy xuất. Thạc sĩ Đặng Bùi Khuê, Cựu Cố vấn cấp cao Công ty SMP, chỉ ra sự khác biệt lớn giữa việc chỉ “có mã QR” để cung cấp thông tin bề mặt cho người tiêu dùng và việc sở hữu một “hệ thống truy xuất” quản trị dữ liệu phía sau, giúp khoanh vùng sự cố và phân tích rủi ro. Để tương thích kỹ thuật, doanh nghiệp cần đáp ứng đầy đủ 9 trường dữ liệu bắt buộc và áp dụng chuẩn mã định danh toàn cầu GTIN-13 bắt đầu bằng tiền tố quốc gia 893. Các định dạng vật mang dữ liệu được quy định theo tiêu chuẩn TCVN 13275:2020, từ mã vạch truyền thống đến mã Datamatrix chứa 2.000 ký tự hay mã QR Code chứa 4.000 ký tự để liên kết dữ liệu điện tử. Hệ thống này phải được đánh giá, công bố hợp chuẩn với giấy chứng nhận có hiệu lực trong 3 năm và chịu giám sát định kỳ hằng năm. Về cơ chế quản lý, hàng hóa được đánh giá rủi ro dựa trên xác suất vi phạm: từ mức an toàn cao (không ghi nhận sự cố trong 5 năm) đến các nhóm có tỷ lệ vi phạm 1-5%, 5-15% và vượt trên 15%. Căn cứ vào đó, sản phẩm được phân định thành ba nhóm rủi ro (thấp, trung bình, cao), trong đó nhóm rủi ro cao sẽ bị kiểm tra nghiêm ngặt khi nhập khẩu. Cơ chế mới cũng phân rõ trách nhiệm lưu trữ dữ liệu, yêu cầu đơn vị bán lẻ lưu trữ tối thiểu 3 năm, còn các nền tảng thương mại điện tử phải lưu trữ tối thiểu 5 năm và kết nối liên thông với Cổng dữ liệu quốc gia.

Nhìn từ góc độ phát triển bền vững, hệ thống truy xuất nguồn gốc chính là “hạ tầng” dữ liệu then chốt cho ESG. Theo ông Phạm Hải Nam, Quản lý Kỹ thuật ESG tại SMP, một báo cáo ESG có giá trị phải dựa trên dữ liệu vận hành thực tế thay vì những cam kết chung chung. Việc ứng dụng Bộ tiêu chuẩn GRI, đặc biệt là Tiêu chuẩn ngành GRI 13 (chủ đề 13.23 về truy xuất chuỗi cung ứng), cho phép doanh nghiệp lượng hóa trách nhiệm rõ ràng. Hệ thống cần đo lường được độ bao phủ (tỷ lệ phần trăm khối lượng hàng hóa có thể truy xuất) và độ sâu truy vết qua bốn cấp độ: quốc gia, khu vực, địa phương và điểm xuất xứ cụ thể của nông trại. Chỉ số kiểm soát nguồn cung theo GRI 13.23.3 được xác định bằng tỷ lệ phần trăm khối lượng nguyên liệu đạt chuẩn trên tổng nguyên liệu thu mua, từ đó giúp phát hiện khoảng trống theo GRI 13.23.4 để đào tạo nâng cao năng lực cho nhà cung ứng. Hơn thế nữa, khối dữ liệu số này là cơ sở bắt buộc để tính toán chỉ số phát thải phạm vi 3 theo GRI 305-3 dựa trên khối lượng và quãng đường vận chuyển, đồng thời phục vụ sàng lọc tiêu chí môi trường (GRI 308), rủi ro an toàn lao động (GRI 414), và công khai thông tin sản phẩm (GRI 416-1, GRI 417-1). Nếu thiết kế đúng ngay từ đầu, doanh nghiệp có thể vận hành chuỗi kiểm soát theo tiêu chuẩn ISO 22095:2020 và quản trị mua hàng có trách nhiệm theo chuẩn GRI 204, chủ động loại trừ các nhà cung cấp mang lại rủi ro do thiếu minh bạch.

Đánh giá về giá trị thực tiễn của sự kiện, bà Phượng Vỹ, đại diện Công ty Eurofins Sắc Ký Hải Đăng, nhận định chương trình mang ý nghĩa chiến lược đối với các doanh nghiệp đang tìm hiểu phương pháp lập báo cáo ESG. Sự kết nối chặt chẽ giữa dữ liệu kỹ thuật và tính bền vững chính là yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh cốt lõi khi doanh nghiệp tiếp cận các thị trường khắt khe như EU hay Hoa Kỳ. Về định hướng sắp tới, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua thách thức về chuẩn hóa thông tin, ITPC xác định lộ trình đồng hành thông qua ba mục tiêu trọng tâm: nắm vững lộ trình tuân thủ, chuyển hóa dữ liệu kỹ thuật sang chuẩn mực ESG và xác lập lợi thế cạnh tranh dài hạn. Bằng các chuỗi hoạt động đào tạo chuyên sâu thực chất, ITPC cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp tháo gỡ mọi rào cản kỹ thuật, biến áp lực tuân thủ thành sức bật để nâng tầm giá trị thương hiệu và chinh phục thành công thị trường toàn cầu.